Tác động của rối loạn chức năng đường thở (thở miệng) đến sức khỏe răng miệng

  • Home
  • Kiến thức
  • Tác động của rối loạn chức năng đường thở (thở miệng) đến sức khỏe răng miệng

Đường thở bao gồm miệng, hàm, đường mũi, lưỡi và cổ họng. Các nha sĩ phối hợp với các chuyên gia y tế khác có thể nhận ra các dấu hiệu ban đầu của rối loạn này, thực hiện đánh giá thích hợp cấu trúc răng hàm mặt, đồng thời đưa ra phương pháp điều trị để giúp ngăn ngừa và quản lý rối loạn chức năng.

1. Tác động của rối loạn chức năng đường thở (thở miệng)

Hít thở là một chức năng quan trọng của con người. Cách thở lành mạnh và hiệu quả nhất là bằng mũi. Hỗ trợ thở bằng mũi trong sự phát triển thích hợp của đường thở trên và các cấu trúc liên quan (tức là sự phát triển về giải phẫu xương và răng).

Thở bằng miệng do tắc nghẽn đường hô hấp trên có thể dẫn đến sưng amidan và adenoids, chứng nghiến răng gây mòn và gãy răng, rối loạn thái dương hàm của khớp hàm, đau cơ, mòn răng, sâu răng, bệnh nha chu, sâu răng và răng bị ảnh hưởng. Ngoài các tác động về răng miệng, các vật cản đường hô hấp trên có thể dẫn đến rối loạn nhịp thở khi ngủ, gây đau đầu, ngáy, khó ngủ, đau cổ, hàm hoặc tai, các bệnh mãn tính như béo phì, hen suyễn, lo lắng, Alzheimer, tiểu đường.

Trẻ thở miệng khi ngủ

2. Đặc điểm của người bị thở miệng
Thở miệng ở trẻ em được báo cáo ở 10-15% trẻ em. Đặc điểm đặc trưng của thở bằng miệng là có ngoại hình khuôn mặt dài, mắt cụp xuống, có đốm đen dưới mắt, môi hở, lỗ mũi hẹp, cơ má yếu, vòm miệng cao, hàm trên hẹp và lệch.

Hình ảnh chụp tư thế mặt thẳng và mặt nhìn nghiêng. 2 hình trên là mô tả các nét mặt của người bình thường không có thói quen xấu, 2 hình dưới là nét mặt điển hình của bệnh nhân thở miệng.

Bệnh nhân thở bằng miệng có thể có các triệu chứng như khô môi và miệng, ngáy và há miệng khi ngủ, nhiễm trùng xoang & tai mãn tính và cảm lạnh, hôi miệng mãn tính, nướu sưng đỏ dễ chảy máu. Bệnh nhân thở miệng có thể được nhìn thấy liên quan đến rối loạn chức năng đường thở và sự phát triển kém trên khuôn mặt đi kèm là khớp cắn hở, khớp cắn chéo, răng bị xô lệch, chen chúc răng và các bệnh lý thái dương hàm.

Hít thở bằng miệng ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe răng miệng do làm khô cấu trúc miệng và giảm tiết nước bọt. Nước bọt có tác dụng trung hòa axit trong miệng và giúp loại bỏ vi khuẩn. Nếu không có nước bọt và các cơ chế bảo vệ có lợi của nó, nguy cơ sâu răng và bệnh nha chu, bệnh lý viêm nướu và xương nâng đỡ xung quanh răng sẽ tăng lên. Trong khi ngủ, thở bằng miệng làm giảm pH trong miệng so với thở bình thường. Độ pH giảm này có thể dẫn đến xói mòn bề mặt răng, tăng độ nhạy cảm của răng với nhiệt độ và dễ bị sâu răng.

3. Chẩn đoán và điều trị
Sự chậm trễ trong chẩn đoán và điều trị thói quen thở bằng miệng có thể kéo dài và làm bệnh trầm trọng thêm và mất đi giai đoạn vàng để điều trị bệnh. Nếu được xử lý sớm hơn, chúng ta có thể ngăn ngừa bệnh lý và điều trị có hiệu quả hơn. Có một số vấn đề về thở bằng miệng chỉ có thể được giải quyết bởi nha sĩ như mở rộng cung hàm, kích thước vòm miệng, và định vị lại hàm. Các nha sĩ sẽ có thể giúp bệnh nhân giảm thiểu bệnh răng miệng cũng như các vấn đề sức khỏe toàn diện hơn bằng cách hỗ trợ chuyển đổi bệnh nhân của họ sang thở bằng mũi.

 

Facebook Twitter Google Plus Pinterest

Leave A Reply